Điều trị ung thư phổi

November 18, 2015

Ung thư phổi là loại ung thư thường gặp và gây tử vong cao. phương án chữa trị căn bản cho ung thư phổi là hóa trị giúp kéo dài sự sống cho bệnh nhân . Với những người bệnh ung thư phổi, việc xét nghiệm gene sẽ giúp các bác sĩ đưa ra giải pháp chữa trị thích hợp nhất cho bệnh nhân để kiểm soát tế bào ung thư.

1. điều trị ung thư phổi

phẫu thuật là mổ để cắt bỏ khối u. 

mổ xẻ vẫn là phương thức chữa trị tốt nhất cho các người mắc bệnh bị mắc ung thư. hiện nay cắt thùy phổi là mổ xẻ giúp cắt bỏ hoàn toàn khối u, nếu khối u lớn hơn thì cắt hai thùy hoặc cắt hết một lá phổi.

phẫu thuật là phương pháp chữa trị ung thư phổi mà lương y tiến hành tùy thuộc vào vị trí của khối u trong phổi. Mổ để cắt bỏ chỉ một phần nhỏ của phổi được gọi là thủ thuật cắt bỏ phân thuỳ hoặc cắt hình chêm. Khi lương y phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ một thuỳ phổi thì gọi là thủ thuật cắt bỏ thuỳ. Chữa trị ung thư phổi khi cắt bỏ phổi là lấy đi toàn bộ một lá phổi. Một số khối u chẳng thể mổ được (chẳng thể loại bở bằng phẫu thuật ) do kích thước hoặc vị trí của khối u và một số bệnh nhân chẳng thể tiến hành giải phẫu vì những lí do về sức khỏe khác.

Khi không còn mổ được, xạ trị và hóa trị chỉ có giá trị nâng đỡ làm bớt đau, bớt ho. Hóa trị giúp trì hoãn sự sống của người bệnh .

Hóa trị liệu Là cách làm chữa trị ung thư phổi thường dùng thuốc chống ung thư để diệt các tế bào ung thư trên toàn toàn thân . Thậm chí sau khi ung thư được xóa bỏ khỏi phổi thì các tế bào ung thư vẫn xuất hiện ở những mô kế bên hoặc ở một vùng nào đó trong thân thể . có khả năng chữa trị ung thư phổi khi tiến hành hóa trị liệu để kiểm soát sự phát triển của tế bào ung thư hoặc là để giảm nhẹ triệu chứng. Hầu hết các loại thuốc chống ung thư được đưa vào cơ thể bằng đường tiêm tĩnh mạch trực tiếp hoặc qua một ống thông đưa vào một tĩnh mạch lớn và được lưu lại cho đến khi không cần nữa. Một số loại thuốc điều trị ung thư phổi ở dạng viên.

điều trị bằng tia xạ Là biện pháp chữa trị ung thư phổi sử dụng tia có năng lượng lớn để tiêu diệt tế bào ung thư. Tia phóng xạ hướng vào một vùng giới hạn và chỉ tác dụng lên tế bào ung thư ở vùng đó. có khả năng thường dùng tia phóng xạ trước khi mổ xẻ để làm co khối u lại hoặc là sau khi giải phẫu để diệt trừ tất tần tật những tế bào ung thư còn sót lại ở vùng mổ xẻ . lương y còn có khả năng chữa trị ung thư phổi khi sử dụng tia phóng xạ, thường là kết hợp với hóa trị liệu để điều trị ban đầu thay cho phẫu thuật . Tia phóng xạ còn được áp dụng để làm giảm triệu chứng như khó thở. Trong điều trị ung thư phổi thường được sử dụng xạ ngoài. ngoài ra còn có khả năng đưa nguồn phóng xạ (hộp nhỏ chất chứa phóng xạ) trực tiếp vào khối u hoặc gần khối u (xạ áp sát).

điều trị ung thư không phải tế bào nhỏbệnh nhân bị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ  được chữa trị theo một vài phương pháp . lựa chọn phương án nào tùy thuộc thường thấy vào kích thước , vị trí và ranh giới của khối u. mổ xẻ là giải pháp phổ biến nhất để điều trị ung thư phổi loại này. mổ xẻ lạnh, phương pháp điều trị gây đông và huỷ hoại mô ung thư, được dụng để kiểm soát triệu chứng ở những GĐ muộn của ung thư không phải tế bào nhỏ. điều trị bẳng tia phóng xạ và hóa trị liệu được sử dụng để làm chậm tiến trình phát triển của bệnh và kiểm soát triệu chứng.

điều trị ung thư tế bào nhỏUng thư phổi tế bào nhỏ có khả năng lan rất nhanh. Trong nhiều trường hợp, tế bào ung thư có khả năng đã lan sang các bộ phận khác của thân thể khi bệnh được chẩn đoán. Để tiếp cận tế bào ung thư trên tất cả toàn thân hầu như các bác sĩ xoành xoạch sử dụng hóa trị liệu. quá trình chữa trị còn có khả năng bao gồm việc tiến hành tia phóng xạ chiếu vào khối u trong phổi hoặc những khối u ở những bộ phận khác trong cơ thể (chả hạn như ở trong não). Một số người bệnh được chữa trị  ung thư phổi bằng tia phóng xạ ở não ngay cả khi không tìm thấy ung thư ở vùng này. phương thức điều trị này, còn được gọi là liệu pháp chiếu xạ sọ não dự phòng , đượcáp dụng để ngăn ngừa sự dẫn đến khối u trong não. giải phẫu là một phần trong ấn định chữ trị ung thư phổi đối với một số ít bệnh nhân bị ung thư phổi tế bào nhỏ.

hậu quả điều trị : Tính chung, khoảng 25 trong số 100 người bệnh còn có thể phẫu thuật được khi khối u còn nhỏ. Phân nửa số này, nghĩa là khoảng 13% trên 100 người mắc bệnh thì có khả năng bình phục 5 năm. Theo mộ số liệu thống kê của hội ung thư Hoa Kỳ năm 2013: Khi phát hiện lúc ung thư phổi còn chwadi căn, tỷ lệ sống sau 5 năm của ung thư phổi là 50%. Nhưng đáng tiếc là chỉ có 15% số ca ung thư phổi được chẩn đoán sớm. Khi ung thư đã di căn sang các bộ phận khác thì tỉ lệ sống của người mắc bệnh chỉ có khoảng 3,5%.

2. Tác dụng phụ của chữa trị ung thư phổi

Tác dụng phụ của việc chữa trị ung thư phổi phụ thuộc vào phương thức chữa trị và có thể khác nhau đối với mỗi cá thể. Tác dụng phụ thường là trợ thời . thầy thuốc và y tá có thể giảng giải những tác dụng phụ xuất hiện trong quá trình chữa trị và họ cũng có thể gợi ý những tuyệt chiêu giúp làm giảm triệu chứng phát sinh trong hoặc sau khi điều trị .

giải phẫu ung thư phổi là một đại giải phẫu . bệnh nhân thường cần phải có người giúp đỡ khi trở mình, ho và thở sâu. Những vận hành này đóng vai trò quan trọng trong tiến trình hồi phục vì thế chúng giúp mở ra mô phổi còn lại và loại bỏ khí và dịch thừa. Đau hoặc thấy bực bội ở ngực và tay cũng như khó thở là những tác dụng phụ thường gặp trong giải phẫu ung thư phổi . Sau khi điều trị ung thư phổi, bệnh nhân có khả năng cần vài tuần hoặc vài tháng để lấy lại năng lượng và sức mạnh của cơ thể .

Hóa trị liệu tác dụng lên cả tế bào thường và tế bào ung thư. Tác dụng phụ sẽ phụ thuộc chủ yếu vào loại thuốc và liều lượng cụ thể. Tác dụng phụ chủ yếu của hóa trị liệu bao gồm buồn nôn và nôn, rụng tóc, đau miệng và mỏi mệt .

chữa trị ung thư phổi bằng giải pháp tia xạ , cũng giống như hóa trị liệu, ảnh hưởng tới cả tế bào thường và tế bào ung thư. Tác dụng phụ của tia phóng xạ phổ biến tùy thuộc vào bộ phận được chiếu tia và liều chiếu. Tác dụng phụ thường gặp của tia phóng xạ là khô và đau họng, khó nuốt, mệt mỏi , biến hóa da ở vùng điều trị , mất cảm giác ăn ngon. người bệnh được chiếu xạ vào não có khả năng bị đau đầu, đổi thay ngoài da, mỏi mệt , buồn nôn và nôn, rụng tóc hoặc là có kết quả với trí tưởng và tiến trình tư duy.

Sau khi chữa trị ung thư phổi Liệu pháp quang quẻ động học làm cho da và mắt trở nên nhạy cảm với ánh sáng trong vòng sáu tuần hoặc là lâu hơn. bệnh nhân nên tránh gặp mặt với ánh nắng mặt trời trực tiếp và ánh đèn quá sáng ở trong gia đình ít ra trong vòng sáu tuần. Nếu người mắc bệnh phải đi ra ngoài thì họ cần phải mặc quần áo bảo vệ và mang kính mát . Những tác dụng phụ tạm thời khác của giải pháp điều trị quang động học có khả năng bao gồm hiện tượng ho, khó nuốt, đau khi thở hoặc khó thở. bệnh nhân nên đàm phán với thầy thuốc về những việc cần phải làm khi da bị phồng rộp, tấy đỏ hoặc sưng lên

3. Ngăn ngừa ung thư phổi

Chưa có thuốc gì hay đồ ăn nào có khả năng ngừa ung thư phổi. Không nên lạm dụng những chất vitamin tức sinh tố. ví dụ , chất Beta-carotene là tiền sinh tố A ở lượng cao gia tăng nguy cơ bị ung thư phổi.Cách tốt nhất để giữ thân thể khỏe mạnh là ăn uống điều độ và ăn đủ loại thực phẩm vì mỗi loại thức ăn có những yếu tố chất dinh dưỡng khác nhau cần thiết cho toàn thân . Ngưng hút thuốc lá có thể làm giảm nguy cơ tiềm ẩn ung thư phổi rất nhiều. Ngưng càng sớm càng tốt. Không hút thuốc lá là cách tốt nhất để ngừa ung thư phổi

Xem Thêm

Những Bài Viết Mới