Giải pháp điều trị bệnh ung thư vũ nào tốt nhất?

November 18, 2015

Khi lựa chọn biện pháp  điều trị bệnh ung thư vú cần cân nhắc nhiều yếu tố , như tỷ lệ đáp ứng chữa trị , tính ưu tiên của từng phương thức , đồng thời đánh giá lợi ích và nguy cơ của điều trị . Cụ thể là cần xem xét một số nhân tố sau đây:

1. Chọn liệu pháp tại chỗ hay liệu pháp cơ thể

Liệu pháp điều trị tại chỗ là phẫu thuật và hoặc xạ trị trực tiếp vào từng vùng vì bị tổn thương di căn trên toàn toàn thân và thường là hóa trị, hooc – môn hoặc phối hợp các loại này.

người bệnh ung thư vú tái phát nhưng còn giới hạn ở vú hoặc ở thành ngực là những đối tượng thích hợp nhất để điều trị tại chỗ. tuy nhiên ,chữa trị ung thư vú bằng giải phẫu  hoặc xạ trị cũng có khả năng được xem xét áp dụng cho bệnh nhân có di căn.nhìn chung , các tổn thương di căn đáp ứng với liệu pháp tại chỗ tốt hơn so với liệu pháp toàn thân , nhưng khi xét quan tâm điều trị tại chỗ cần tính đến một số nhân tố , như mức độ lan rộng của ung thư, vị trí di căn và mức độ cấp bách của việc điều trị một di căn cụ thể. Ví dụ, khi có di căn vào một xương đỡ trọng lượng thân thể quan trọng như xương chân, giải phẫu có thể là hợp lý nhất để phòng gẫy xương. Trong những trường hợp này, liệu pháp tại chỗ (phẫu thuật , sau đó xạ trị) thường được chữa trị phối hợp vói liệu pháp toàn thân .

2. Chọn dùng hóa trị hay hooc-monHóa trị (thường được dùng qua đường tĩnh mạch.) và hoóc-môn (thường được dùng qua đường uống) là hai cách chữa trị ung thư vú di căn toàn thân khác nhau. Việc chọn lựa hóa trị hay hoóc-môn cần dựa vào một số nhân tố :- Tình trạng có các thụ thể hoóc-môn (ER và//hoặc PgR) ở tế bào ung thư, nếu hiện diện của các thụ thể này tiên đoán là liệu pháp hoóc-môn sẽ có lợi.- Cân nhắc nguy cơ và lợi ích của cả hai cách chữa trị .- Vị trí của các di căn.- Mức độ lan tràn của ung thư và các triệu chứng của ung thư.Hoóc-môn thường được khuyến cáo sử dụng ngay từ đầu cho bệnh nhân ung thư vú di căn có thụ thể ER hoặc PgR do hoóc-môn có ít tác dụng phụ hơn sơ với hóa trị. Nếu hiệu quả của hoóc-môn không chắc chắn thì bác sĩ thường khuyến cáo dùng hóa chất để điều trị ngay từ đầu.ngược lại , hóa chất thường được khuyến cáo sử dụng ngay từ đầu khi ung thư tiến triển nhanh, khi có di căn vào các cơ quan sống quan trọng, khi người bệnh có nhiều triệu chứng bệnh hoặc khi liệu pháp hốc-môn có thể không hiệu quả (ví dụ, nếu ung thư không có thụ thể hoóc-môn.)

3. Chọn cách dùng hóa chất kết hợp hooc-monmặc dầu việc sử dụng đồng thời hóa chất và hoóc-môn có thể làm tăng tỷ lệ đáp ứng của ung thư vú di căn có thụ thể hoóc-môn với chữa trị , các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đáp ứng cao hơn này không có nghĩa là cho tỷ lệ sống sót cao hơn. Hơn nữa, liệu pháp phối hợp có nguy cơ gây ra nhiều tác dụng phụ hơn và làm giảm chất lượng sinh sống của người bệnh . Vì thế , người mắc bệnh ung thư vú có thụ thể hoóc-môn dương tính thường được chữa trị theo trình tự hoặc là dùng hoóc-môn trước, sau đó dùng hóa trị khi bệnh tiến triển hoặc hóa trị trước, sau đó dùng hoóc-môn khi khối u tiến triển.

a. Bisphosphonatbên cạnh  chữa trị ung thư vú toàn thân bằng hóa trị hoặc hoóc-môn, người bệnh ung thư vú có di căn xương cũng được hưởng lợi khi sử dụng các loại thuốc tăng cường xương gọi là biphosphonat. Khi kết hợp với hóa trị hoặc hoóc-môn, việc truyền bisphosphonat (ví dụ, pamidronat hoặc axit zoledronic) hàng tháng có thẻ làmgiảm nguy cơ tiềm ẩn , trì hoa tai tiến trình phát triển của các biến chứng xương như gẫy xương.

b. Các yếu tố dự báoCác yếu tố dự báo giúp tiên đoán khả năng đáp ứng của ung thư vú với một týp điều trị cụ thể.

c. Liệu pháp hoóc-mônMột số yếu tố đi kèm khả năng đáp ứng với hoóc-môn cao hơn:- thời kỳ giữa chữa trị lúc đầu đến tái phát là dài- Di căn cô đơn vào xương hoặc mô mềm, ví dụ như hạch bạch huyết hoặc da- Đã có đáp ứng với hoóc-môn trước đó- Có ER ở tế bào ung thư vú, ví dụ, khoảng 50-60% các trường hợp ung thư vú đáp ứng với liệu pháp hoóc-môn khi có số lượng ER cao hoặc vừa, so với chỉ 10% đáp ứng ở các trường hợp ung thư vú có ít ER.- Ngoài ER còn có PgR ở tế bào ung thư vú.

d. Hóa trịKhông giống liệu pháp hoóc-môn, không có nhân tố rõ ràng nào có khả năng dự báo được sự đáp ứng của ung thư vú với hóa trị. Hóa trị thường được ưu tiên chọn dùng khi khối u không có thụ thể với estrogen và progesteron. Trong số những người mắc bệnh ung thư vú di căn chưa hề dùng hóa chất trước đó để điều trị di căn, khoảng 50-70% người mắc bệnh sẽ có đáp ứng với đợt hóa trị lúc đầu .

– Hóa trị có thể ít hiệu quả hơn: khi được dùng để điều trị đợt hai (tức là ung thư vú vẫn tiến triển mặc dầu đã được điều trị bằng hóa trị.)- Khi ung thư vú tái phát xuất hiện trong khoảng 12 tháng sau khi kết thúc hóa trị bổ trợ (là đợt hóa trị lúc đầu dùng cho người bệnh ung thư vú GĐ sớm.)

– Khi tình trạng sức khỏe chung của người bệnh tồi hoặc khi ung thư xuất hiện ở nhiều vị trí trên toàn cơ thể , đặc biệt là ở các cơ quan sống quan trọng.

Một số yếu tố khác giúp tiên đoán khả năng đáp ứng với hóa chất, như:- Các chất chỉ điểm tăng sinh. Một số chất chỉ điểm có khả năng giúp xác định tốc độ tăng sinh của các tế bào ung thư vú. Tốc độ tăng sinh càng cao thì khả năng đáp ứng với hóa chất có vẻ càng cao.

– HER-2/neu. Một số nghiên cứu thấy rằng sự hiện diện của HER-2/neu trên tế bào ung thư vú là một triệu chứng hữu ích để dự báo đền ứng của ung thư vú di căn với các liệu pháp điều trị khác nhau. Đặc biệt, người bệnh ung thư vú có nồng độ HER-2/neu cao có khả năng thể thu được nhiều thành quả điều trị hơn khi được chữa trị bằng Herceptin (còn gọi là trastuzumab.)

Xem Thêm

»Phát hiện ung thư phổi giai đoạn đầu như thế nào

»Điều trị ung thư phổi

Những Bài Viết Mới